Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
390/2024/DS-PTĐất đai & Bất động sảnPhúc thẩm

BẢN ÁN 390/2024/DS-PT — Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu đập bỏ, tháo dỡ, di dời tài sản, công trình trên đất

Tòa án: Tòa án nhân dân Tỉnh Long AnNgày: 01/01/2024Tỉnh/Thành: Long AnVề việc: Tranh chấp QSDĐ, yêu cầu tháo dỡ công trình

BẢN ÁN 390/2024/DS-PT — Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu đập bỏ, tháo dỡ, di dời tài sản, công trình trên đất

Tòa án nhân dân Tỉnh Long An | 28-8-2024


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án390/2024/DS-PT
Tòa ánTòa án nhân dân Tỉnh Long An
Ngày xét xử28-8-2024
Về việcTranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu đập bỏ, tháo dỡ, di dời tài sản, công trình trên đất

2. NỘI DUNG VỤ ÁN · NHẬN ĐỊNH · QUYẾT ĐỊNH

Bảng thay tên nhân vật

Ký hiệu/tên trong nguồnTên dễ đọc trong file
ông M; ông Hồ Văn Mông Nguyễn Văn A
bà M1; bà Phạm Thị Thu M1bà Nguyễn Thị B
ông T; ông Hồ Văn Tông Nguyễn Văn C

Nội dung vụ án, nhận định và quyết định

Nội dung vụ án:

Ông được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 345423, số vào sổ CH 10420, ngày cấp 08/02/2022 đối với thửa đất số 309, tờ bản đồ số 02, diện tích là 350m2 , loại đất trồng cây hàng năm khác, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An để cho ông sử dụng. Kể từ ngày ông được cấp giấy cho đến nay thì ông không được quyền sử dụng. Bởi vì, ông Nguyễn Văn A chiếm giữ, sử dụng thửa đất 309 nêu trên cho đến nay. Ông đã nhiều lần làm đơn gửi đến Ủy ban nhân dân huyện T, Ủy ban nhân dân xã B yêu cầu cắm mốc giới để giao đất cho ông nhưng ông Nguyễn Văn A nhiều lần ngăn cản không cho chính quyền địa phương huyện, xã cắm mốc giới. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị B phải đập bỏ, tháo dỡ di dời hàng rào xi măng, lưới B40 và cây trồng trả lại quyền sử dụng đất chiếm giữ trái phép là thửa đất số

309, tờ bản đồ số 02, diện tích là 350m2 , loại đất trồng cây hàng năm khác, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 345423, vào sổ số CH 10420 được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An cấp cho ông vào ngày 08/02/2022. Ông đồng ý với M2 trích đo địa chính số 142 – 2023 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 01/6/2023 và kết luận định giá của Hội đồng định giá về tài sản, giá trị đất tại thửa 309, để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C về việc “Tranh chấp đòi tài sản quyền sử dụng đất và yêu cầu đập bỏ, tháo dỡ di dời tài sản trên đất” đối với ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B. 1.1 Buộc ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B phải đập bỏ, tháo dỡ, di dời hàng rào xây gạch lưới B40 xây dựng trên thửa dất số 309 để trả lại quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn C đối với thửa đất số 309, tờ bản đồ số 02, diện tích là 350m2 , loại đất trồng cây hàng năm khác, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An.

1.2 Vị trí, kích thước, tứ cận của thửa đất số 309 được thể hiện tại Mảnh trích đo địa chính số 142 – 2023 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 01/6/2023. 2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn A về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn C phải trả lại giá trị hàng rào xây tường gạch lưới B40 và cây trồng trên thửa đất 309.

2.1 Buộc ông Nguyễn Văn C phải trả lại giá trị hàng rào xây tường gạch lưới B40 và cây trồng trên thửa đất số 309 là 30.678.513 đồng (Ba mươi triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn năm trăm mười ba đồng) 2.2. Ông Nguyễn Văn C được quyền sở hữu các cây trồng trên thửa đất 309 gồm: 08 cây dừa loại A, 04 cây dừa loại C, 01 cây bưởi loại C, 02 cây mít loại A, 01 cây chanh loại A, 03 bụi chuối loại A, 03 cây sabochê loại A, 01 cây bơ loại C, 01 cây tắc loại A. 3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn A về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn C phải bồi thường giá trị san lấp đất là 28.000.000 đồng. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định:

  • Nhận thấy, ao được hình thành trên lỗ bom đã có sẵn nên ông Nguyễn Văn A cũng không có bồi đắp nhiều đối với 8 ao cá này, cá tra ông Nguyễn Văn A thả duy nhất một lần và cá thả đã lâu, cũng đã nhiều lần bắt cá lên cho gia đình sử dụng và cho hàng xóm và ông Nguyễn Văn A cũng không xác định được giá trị cá dưới ao, tài sản trên ao cũng không có giá trị lớn. Theo nhận định tại mục [4.4] nêu trên thì ông Nguyễn Văn A quản lý sử dụng đất nhưng không có căn cứ nên buộc ông Nguyễn Văn A phải giao trả lại đất và toàn bộ ao cá và tài sản có trên ao cá cho ông Nguyễn Văn C.

  • Nhận thấy, ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị B quản lý sử dụng, chiếm hữu tài sản là quyền sử dụng đất tranh chấp không có căn cứ pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 165 Bộ luật Dân sự nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C, buộc ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị B trả lại tài sản là quyền sử dụng đất đối với thửa đất 309 nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 166 của Bộ luật Dân sự.

  • Xét kháng cáo của bị đơn về việc yêu cầu bồi thường 30.678.513 đồng tiền giá trị hàng rào tường gạch lưới B40 và cây trồng trên đất, thấy rằng: Ông Nguyễn Văn A xây dựng hàng rào từ năm 2012 và trồng cây trên thửa đất số 309 từ trước khi các bên xảy ra tranh chấp và khiếu kiện tại các cơ quan có thẩm quyền, khi ông Nguyễn Văn A tiến hành xây dựng hàng rào và trồng cây thì ông Nguyễn Văn C không có khiếu nại, phản đối, cũng không nhờ chính quyền địa phương can thiệp và cũng không biện pháp nào để ngăn cản đến cùng về việc không cho bị đơn xây dựng phần hàng rào và trồng cây. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu bồi thường giá trị hàng rào và cây trồng là của ông Nguyễn Văn A là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc ông Nguyễn Văn C phải bồi thường giá trị hàng rào nhưng cấp sơ thẩm lại buộc ông Nguyễn Văn A phải đập bỏ, tháo dỡ, di dời hàng rào là không cần thiết nên giao cho ông Nguyễn Văn C được quyền sở

hữu và định đoạt đối với hàng rào này.

Tòa án cấp phúc thẩm tuyên

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C về việc “Tranh chấp đòi tài sản quyền sử dụng đất và yêu cầu đập bỏ, tháo dỡ di dời tài sản trên đất” đối với ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B. 1.1. Buộc ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B phải trả lại quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn C đối với thửa đất số 309, tờ bản đồ số 02, diện tích là 350m2 , loại đất trồng cây hàng năm khác, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An.

2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn A về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn C phải trả lại giá trị hàng rào xây tường gạch lưới B40 và cây trồng trên thửa đất 309.

2.1. Buộc ông Nguyễn Văn C phải trả lại giá trị hàng rào xây tường gạch lưới B40 và cây trồng trên thửa đất số 309 là 30.678.513 đồng. 2.2. Ông Nguyễn Văn C được quyền sở hữu hàng rào xây gạch lưới B40 xây dựng trên thửa dất số 309 và các cây trồng trên thửa đất 309 gồm: 08 cây dừa loại A, 04 cây dừa loại C, 01 cây bưởi loại C, 02 cây mít loại A, 01 cây chanh loại A, 03 bụi chuối loại A, 03 cây sabochê loại A, 01 cây bơ loại C, 01 cây tắc loại A.

2.3. Buộc ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B phải giao hàng rào lưới B40 và các cây trồng nêu trên cho ông Nguyễn Văn C. 3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn A về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn C phải bồi thường giá trị san lấp đất là 28.000.000 đồng.


3. TỪ KHÓA SEO

  • buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên đất người khác
  • lấn chiếm đất xây nhà bị kiện tháo dỡ
  • đòi lại đất bị chiếm quyền sử dụng đất
  • di dời cây trồng vật kiến trúc đất tranh chấp
  • bồi thường công trình khi tháo dỡ
  • Điều 166 BLDS 2015 đòi lại tài sản
  • chiếm đất trái phép xử lý pháp lý
  • bản án tháo dỡ công trình đất đai 2023 2024
  • đo đạc địa chính xác định ranh giới đất
  • tranh chấp đất có yêu cầu tháo dỡ tòa án
Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.