BẢN ÁN 74/2023/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất; tranh chấp hđ chuyển nhượng qsd đất; hủy giấy chứng nhận qsd đất
BẢN ÁN 74/2023/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất; tranh chấp hđ chuyển nhượng qsd đất; hủy giấy chứng nhận qsd đất
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai | 19/4/2023
1. METADATA
| Trường | Nội dung |
|---|---|
| Số bản án | 74/2023/DS-PT |
| Tòa án | Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai |
| Ngày xét xử | 19/4/2023 |
| Về việc | tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất; tranh chấp HĐ chuyển nhượng QSD đất; hủy giấy chứng nhận QSD đất |
2. NỘI DUNG VỤ ÁN · NHẬN ĐỊNH · QUYẾT ĐỊNH
Bảng thay tên nhân vật
| Ký hiệu/tên trong nguồn | Tên dễ đọc trong file |
|---|---|
| ông Đ; ông Huỳnh Văn Đ | ông Nguyễn Văn A |
| bà Th; bà Nguyễn Thị Th | bà Nguyễn Thị B |
| ông Q; ông Trần Văn Q | ông Nguyễn Văn C |
| ông H; ông Nguyễn Xuân H | ông Nguyễn Văn D |
| ông D; ông Trần Văn D | ông Nguyễn Văn E |
Nội dung vụ án, nhận định và quyết định
nội dung vụ án:**
Năm 2007 ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị B hùn tiền nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn C diện tích đất 10.068m2 gồm thửa 518 tờ bản đồ 05 và thửa 05, 20, 35, 84, 85 cùng tờ bản đồ 11 xã Đ1, huyện Nh. Hợp đồng chuyển nhượng đã thực hiện xong, ông Nguyễn Văn C đã giao đất cho ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị B quản lý từ năm 2007, đất do bà Nguyễn Thị B đại diện đứng tên sổ đỏ. Khi giao đất, ông Nguyễn Văn C trực tiếp chỉ ranh, ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B nhận đất và cắm trụ bê tông để phân ranh giới. Thời điểm đó đất còn trống, không có công trình, cây cối gì. Đến ngày 15/8/2017, khi bà Nguyễn Thị B thuê nhân công đến xây hàng rào thì ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn E ngăn cản. Ông Nguyễn Văn E đã cất 01 chòi tole trên một phần thửa 84 tờ bản đồ 11, lấn chiếm khoảng 200m2 đất của ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B. Qua đo đo đạc, trồng ghép bản đồ địa chính cũ mới, xác định phần đất ông Nguyễn Văn E lấn chiếm có thửa mới số thửa 91 tờ bản đồ 18 xã Đ1, diện tích đất 200m2 . Do đó, ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn E tháo dỡ công trình, trả lại tại 200m2 thuộc thửa số 91, tờ bản đồ số 18 (thửa cũ số 84, tờ bản đồ số 11) xã Đ1. Nguyên đơn không đồng ý thanh toán giá trị nhà trên đất cho ông Nguyễn Văn E, vì ông Nguyễn Văn E cố tình xây dựng trong thời gian đất có tranh chấp. Ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B rút yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Văn D, vì đất tranh chấp do một mình ông Nguyễn Văn E lấn chiếm, sử dụng, không liên quan đến ông Nguyễn Văn D. Đối với phản tố của ông Nguyễn Văn E yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 319318 do Ủy ban nhân dân huyện Nh cấp cho ông Nguyễn Văn C, chỉnh lý trang 4 tên bà Nguyễn Thị B, yêu cầu hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn C với bà Nguyễn Thị B và yêu cầu công nhận diện tích đất 200m2 thửa 91 tờ bản đồ 18 xã Đ1 cho ông Nguyễn Văn E, thì nguyên đơn không đồng ý.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn A với bị đơn ông Nguyễn Văn E về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất”. Buộc ông Nguyễn Văn E tự tháo dỡ căn nhà diện tích 37,73m2 để trả lại cho ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B diện tích đất 200m2 thửa 91 tờ bản đồ 18 xã Đ1, huyện Nh, tỉnh Đồng Nai. Nhà có cấu trúc: chân cột bê tông, cột thép ống, bó nền xây gạch dày 200mm, nền bê tông xi măng lát gạch ceramic; vách khung thép bọc tôn và 01 phần tường xây gạch dày 100mm, tô trát; cửa đi chính sắt kính; cửa đi phòng và cửa sổ nhôm kính; xà gồ thép, mái lợp tôn; Gác: xà gồ thép, sàn lót tấm xi măng, cầu thang khung thép; Khu bếp: khung thép hộp; kệ bếp: đặt viên gạch ceramic lên khung thép; khu vệ sinh: nền lát gạch ceramic, tường xây gạch dày 100mm, tô trát; sàn mái bê tông cốt thép, xí bệt, bồn nước nhựa; mái hiên: chân cột bê tông, cột thép hộp, nền bê tông xi măng, xà gồ thép, mái lộp tôn; Cột bê tông cốt thép: Móng bê tông cốt thép; cột bê tông cốt thép kích thước 0,2m x 0,2 m x cao 3,2m.
Tòa án cấp phúc thẩm nhận định:
Có cơ sở xác định diện tích đất tranh chấp 200m2 tại thửa 91 tờ bản đồ 18 (tương ứng 01 phần thửa 84 tờ bản đồ 11) xã Đ1, huyện Nh, tỉnh Đồng Nai là của bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn A nhận chuyển nhượng hợp pháp từ ông Nguyễn Văn C. Việc ông Nguyễn Văn E tự ý lấn chiếm, dựng nhà trên đất là không đúng. Vì vậy, cấp sơ thẩm chấp nhận khởi kiện của ông Nguyễn Văn A bà Nguyễn Thị B, bác phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn E về tranh chấp quyền sử dụng đất, buộc ông Nguyễn Văn E trả lại đất cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B là đúng. Ông Nguyễn Văn E kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh, nên không chấp nhận.
Đối với công trình xây dựng trên đất: Do ông Nguyễn Văn E lấn chiếm đất trái phép và công trình xây dựng ông Nguyễn Văn E làm trong thời gian đất có tranh chấp, cấp sơ thẩm buộc ông Nguyễn Văn E tháo dỡ công trình trả lại đất là đúng. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn tự nguyện thanh toán giá trị công trình xây dựng trên đất cho ông Nguyễn Văn E theo giá của chứng thẩm định là có lợi cho ông Nguyễn Văn E, nên chấp nhận, sửa một phần bản án sơ thẩm, xử cho ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B được sở hữu tài sản có trên đất và thanh toán giá trị tài sản cho ông Nguyễn Văn E với số tiền 69.395.000đ.
Tòa án cấp phúc thẩm tuyên:
Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn A với bị đơn ông Nguyễn Văn E về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất”. - Buộc ông Nguyễn Văn E trả lại cho ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B diện tích đất 200m2 thuộc thửa đất số 91 (cắt thửa cũ số 84), tờ bản đồ 18 xã Đ1, huyện Nh, tỉnh Đồng Nai. Đất có tứ cận: Đ giáp thửa 557, 558, 559, 545, 544, 589, 590; Tây giáp thửa 124 (thửa cũ số 84); Nam giáp thửa 542; Bắc giáp thửa 556, theo trích lục và đo hiện trạng khu đất bản đồ địa chính số 779/2020 ngày 27/02/2020 của
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai, chi nhánh Nhơn Trạch. - Ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản (công trình xây dựng có trên đất) cho ông Nguyễn Văn E với số tiền 69.395.000đ.
- Ông Nguyễn Văn A, bà Nguyễn Thị B được sở hữu tài sản trên đất gồm: Căn nhà diện tích 37,73m2 , cấu trúc: chân cột bê tông, cột thép ống, bó nền xây gạch dày 200mm, nền bê tông xi măng lát gạch ceramic; vách khung thép bọc tôn và 01 phần tường xây gạch dày 100mm; cửa đi chính sắt kính; cửa đi phòng và cửa sổ nhôm kính; xà gồ thép, mái lợp tôn; Gác: xà gồ thép, sàn lót tấm xi 15 măng, cầu thang khung thép; Khu bếp: khung thép hộp; kệ bếp: đặt viên gạch ceramic lên khung thép; khu vệ sinh: nền lát gạch ceramic, tường xây gạch dày 100mm, tô trát; sàn mái bê tông cốt thép, xí bệt, bồn nước nhựa; mái hiên: chân cột bê tông, cột thép hộp, nền bê tông xi măng, xà gồ thép, mái lộp tôn; Cột bê tông cốt thép: Móng bê tông cốt thép; cột bê tông cốt thép kích thước 0,2m x 0,2m x cao 3,2m. Theo chứng thư thẩm định giá số 2206/CT-ĐNI ngày 05/7/2022 của Công ty Cổ
phần thẩm định giá Đồng Nai.
3. TỪ KHÓA SEO
- buộc tháo dỡ công trình xây dựng trên đất người khác
- lấn chiếm đất xây nhà bị kiện tháo dỡ
- đòi lại đất bị chiếm quyền sử dụng đất
- di dời cây trồng vật kiến trúc đất tranh chấp
- bồi thường công trình khi tháo dỡ
- Điều 166 BLDS 2015 đòi lại tài sản
- chiếm đất trái phép xử lý pháp lý
- bản án tháo dỡ công trình đất đai 2023 2024
- đo đạc địa chính xác định ranh giới đất
- tranh chấp đất có yêu cầu tháo dỡ tòa án

