BẢN ÁN 331/2023/DS-PT — Tranh chấp QSDĐ và hủy quyết định cá biệt (GCN cấp sai)
BẢN ÁN 331/2023/DS-PT — Tranh chấp QSDĐ và hủy quyết định cá biệt (GCN cấp sai)
1. METADATA
| Trường | Nội dung |
|---|---|
| Số bản án | 331/2023/DS-PT |
| Ngày tuyên | 19/12/2023 |
| Tòa án | TAND Cấp cao tại Đà Nẵng (xét xử phúc thẩm) |
| Tòa sơ thẩm | TAND tỉnh Quảng Nam (BA 55/2023/DS-ST ngày 23/8/2023) |
| Loại tranh chấp | Tranh chấp QSDĐ; hủy quyết định cá biệt (GCN QSDĐ cấp sai) |
| Nguyên đơn | Bà Lê Thị C (đại diện ông Nguyễn Lương T) |
| Bị đơn | Bà Nguyễn Thị Ẩ (Bậu) |
| NLQ | UBND thị xã Đ; UBND phường Đ; các con ông T (NLQ1 đến NLQ7) |
| Kết quả phúc thẩm | Không chấp nhận kháng cáo — giữ nguyên bản án sơ thẩm (bác đơn bà C, hủy một phần GCN) |
| Người kháng cáo | Người đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Lương T và bà Lê Thị C |
2. TÓM TẮT
Thửa đất số 649 (tờ BĐ 9, 260m²) tại thôn B, xã Đ, thị xã Đ, Quảng Nam. Hộ bà C (tức vợ ông T) có GCN số H242633 ngày 10/3/1997 do UBND huyện Đ cấp. Ông T làm đơn xin đất năm 1996 theo Nghị định 64/CP.
Vấn đề: Khi UBND cấp GCN cho bà C, trên thửa 649 đã có tài sản (cây trồng) của bà Ẩ1 từ lâu. Bà Ẩ1 sử dụng phần đất này từ thời kháng chiến chống Pháp, sau giải phóng tiếp tục canh tác. UBND không thẩm tra thực trạng, không thu hồi đất đang sử dụng của bà Ẩ1, vi phạm Điều 21 Luật Đất đai 1993.
Gia đình ông T/bà C không bao giờ sử dụng thực tế thửa 649 (ở nhà cha mẹ kề bên). Năm 2020, khi ông T đến phát rào, bà Ẩ1 ngăn cản. Bà C khởi kiện yêu cầu buộc bà Ẩ1 trả đất. Cả sơ thẩm lẫn phúc thẩm đều bác đơn bà C và hủy một phần GCN của bà C.
3. ⭐ NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1.2] Tại Công văn số 29/UBND ngày 12/5/2022 của UBND xã Đ: "Phần đất này hộ bà Nguyễn Thị Ấ1 sử dụng từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến nay..."
Đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Lương T cũng đã thừa nhận: Tại thời điểm đăng ký, gia đình bà C không sử dụng thửa đất số 649... Từ khi được cấp GCN đến nay, hộ bà C cũng không sử dụng thửa đất này. Trên thửa 649 có cây cối do bà Nguyễn Thị Ấ1 trồng từ năm 1998.
Việc UBND huyện Đ cấp GCN cho bà C ngày 10/3/1997 đã không thẩm tra thực trạng tình hình sử dụng đất... không tiến hành kiểm tra, xác minh ai là người đang sử dụng... chưa xử lý các tài sản của bà Ẩ1 hiện có trên đất... không đúng quy định tại Điều 21 Luật Đất đai 1993 quy định: "Việc quyết định giao đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện sau khi có quyết định thu hồi đất đó".
Do đó án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà C và hủy một phần GCN là có căn cứ, đúng pháp luật. Kháng cáo không có tài liệu chứng cứ mới → không có căn cứ chấp nhận.
Điểm pháp lý nổi bật:
- Điều 21 Luật Đất đai 1993 (nay Điều 53 Luật Đất đai 2013): Đất đang có người sử dụng hợp pháp không được giao cho người khác nếu chưa có quyết định thu hồi.
- Không sử dụng đất thực tế dù có GCN — không thể thắng kiện trước người đang canh tác lâu dài.
- Lời thừa nhận của chính nguyên đơn tại tòa là bằng chứng bất lợi mạnh nhất.
- GCN cấp sai không bảo vệ người được cấp khi cơ quan cấp không tuân thủ thủ tục thu hồi đất.
4. ⚖️ QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS:
- Bác kháng cáo của ông Nguyễn Lương T và bà Lê Thị C.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm 55/2023/DS-ST ngày 23/8/2023 của TAND tỉnh Quảng Nam:
- Không chấp nhận yêu cầu của bà C buộc bà Ẩ1 trả lại 260m² đất thửa 649.
- Hủy một phần GCN H242633 ngày 10/3/1997 của UBND huyện Đ đối với thửa đất số 649 (260m²) cấp cho hộ bà C (theo sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm).
- Án phí phúc thẩm: Miễn cho ông T và bà C (người cao tuổi).
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực từ ngày tuyên án.
5. ❓ Q&A TRAINING
Q1: Đã có GCN mang tên mình nhưng bị tòa bác yêu cầu đòi đất — vì sao? A: GCN không phải chứng cứ tuyệt đối nếu được cấp không đúng thủ tục. Trong vụ này, GCN cấp cho bà C nhưng trên đất đã có người đang sử dụng (bà Ẩ1) mà không qua thủ tục thu hồi đất — vi phạm Điều 21 Luật Đất đai. GCN như vậy bị hủy. Người có GCN cũng không được đòi đất.
Q2: Nguyên tắc "đất đang có người sử dụng không được giao cho người khác khi chưa thu hồi" áp dụng thế nào? A: Điều 21 Luật Đất đai 1993 (nay Điều 53 LĐĐ 2013) quy định: Nhà nước chỉ được giao đất đang có người sử dụng sau khi có quyết định thu hồi đất đó. Nếu vi phạm: GCN cấp sai → bị hủy. Người thực tế đang sử dụng đất được bảo vệ.
Q3: Lời thừa nhận của nguyên đơn tại tòa có giá trị pháp lý như thế nào? A: Rất cao. Theo khoản 2 Điều 92 BLTTDS, sự thừa nhận của một bên là "tình tiết, sự kiện không phải chứng minh". Ông T thừa nhận không bao giờ sử dụng thửa 649 → tòa dùng làm bằng chứng chống lại ông T.
Q4: UBND cấp GCN cho đất đang có người sử dụng mà không thu hồi trước — vi phạm gì? A: Vi phạm Điều 21 Luật Đất đai 1993; Điều 53 Luật Đất đai 2013. Hậu quả: GCN bị hủy (vô hiệu). UBND có thể bị kiện hành chính. Người được cấp GCN sai mất quyền.
Q5: Người canh tác đất nhiều năm không có GCN có bị tòa bảo vệ không? A: Có, khi đất đang sử dụng hợp pháp và GCN đối phương cấp sai thủ tục. Bà Ẩ1 không có GCN nhưng sử dụng từ thời kháng chiến, tiếp tục sau 1975 — được tòa xác nhận là người sử dụng hợp pháp. GCN của bà C cấp sai → bị hủy → bà Ẩ1 thắng kiện.
Q6: Sau khi GCN bị hủy một phần, phần đất đó xử lý thế nào? A: Vụ án này chỉ giải quyết hủy GCN (phần 260m²). Quyền sử dụng đất của bà Ẩ1 chưa được cấp GCN chính thức trong vụ này — UBND cần giải quyết theo quy trình hành chính để cấp GCN mới cho bà Ẩ1 (nếu đủ điều kiện) hoặc xử lý theo quy định.
6. TỪ KHÓA SEO
- đất đang có người sử dụng không được giao người khác
- GCN đất cấp sai bị hủy
- hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 2023
- Điều 21 luật đất đai 1993 thu hồi đất
- có sổ đỏ vẫn thua kiện đòi đất
- người canh tác đất lâu năm được bảo vệ
- tranh chấp đất quảng nam 2023
- không sử dụng đất dù có GCN
- tòa án cấp cao đà nẵng hủy GCN 2023
- lời thừa nhận của nguyên đơn tại tòa
- UBND cấp GCN sai thủ tục
- đất khai hoang từ thời kháng chiến
- không thẩm tra thực trạng sử dụng đất
- Nghị định 64/CP giao đất nông nghiệp
- bản án hủy GCN cấp sai 2023
7. TOÀN VĂN GỐC
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
BẢN ÁN 331/2023/DS-PT NGÀY 19/12/2023 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ HỦY QUYẾT ĐỊNH CÁ BIỆT
Ngày 19/12/2023, tại TAND Cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 243/TLPT-DS ngày 09/11/2023. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 55/2023/DS-ST ngày 23/8/2023 của TAND tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.
ĐƯƠNG SỰ:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị C. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lương T.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ẩ (Bậu). Đại diện: Ông Nguyễn H.
- NLQ: UBND thị xã Đ; UBND phường Đ; Ông Nguyễn Lương T; Bà Nguyễn Thị V1; Ông Nguyễn Lương D; Ông Nguyễn Lương S; Ông Nguyễn Lương T2; Bà Nguyễn Thị T3; Ông Nguyễn Lương T4.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Lương T và bà Lê Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Thửa đất 649 (BĐ 9, 260m²), thôn B, xã Đ, thị xã Đ. Ông T làm đơn xin cấp đất năm 1996 theo NĐ 64/CP. Được cấp GCN H242633 ngày 10/3/1997 đứng tên bà Lê Thị C. Hộ ông T không sinh sống trên thửa 649 (sống trên đất kề bên của cha mẹ). Sau khi được cấp GCN, gia đình không xây hàng rào, mốc giới.
Thực tế: Bà Ẩ1 sử dụng thửa 649 từ thời kháng chiến chống Pháp. Sau giải phóng tiếp tục trồng tre, bạch đàn, cây găng. UBND xã Đ xác nhận khi cấp GCN cho bà C "trên đất có cây màu và cây lâu năm của bà Ẩ1".
Ngày 04/9/2020, ông T đến phát rào, bà Ẩ1 ngăn cản. Ông T làm đơn kiến nghị UBND xã nhưng hòa giải không thành. Bà C khởi kiện yêu cầu buộc bà Ẩ1 chấm dứt cản trở QSDĐ và trả thửa 649.
BẢN ÁN SƠ THẨM (55/2023/DS-ST):
- Không chấp nhận yêu cầu bà C.
- Hủy một phần GCN H242633 ngày 10/3/1997 của bà C (260m²).
Ông T và bà C kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH (Phúc thẩm):
[1.1] Phần đất 260m² thực tế bà Ẩ1 sử dụng từ thời kháng chiến, sau 1975 tiếp tục. UBND xã Đ xác nhận. Người dân liền kề cũng xác nhận.
[1.2] Đại diện nguyên đơn thừa nhận: Không sử dụng thửa 649 tại thời điểm đăng ký và cho đến nay. Trên đất có cây của bà Ẩ1 trồng từ năm 1998.
UBND cấp GCN không thẩm tra thực trạng, không thu hồi đất đang sử dụng → vi phạm Điều 21 LĐĐ 1993. Án sơ thẩm có căn cứ. Kháng cáo không có chứng cứ mới → không chấp nhận.
[2] Quyết định không kháng cáo kháng nghị có hiệu lực kể từ hết thời hạn.
[3] Miễn án phí cho ông T và bà C (người cao tuổi).
QUYẾT ĐỊNH:
- Bác kháng cáo của ông Nguyễn Lương T và bà Lê Thị C.
- Giữ nguyên Bản án sơ thẩm 55/2023/DS-ST: Bác đơn bà C; Hủy một phần GCN H242633 (thửa 649, 260m²).
- Miễn án phí phúc thẩm cho ông T và bà C.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực từ ngày tuyên án.

