BẢN ÁN 92/2024/DS-PT — Tranh chấp QSDĐ và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất
TAND CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
BẢN ÁN 92/2024/DS-PT NGÀY 01/01/2024 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
TAND CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG BẢN ÁN 92/2024/DS-PT NGÀY 01/01/2024 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Thửa đất số 110 (tờ BĐ 29, huyện B, Quảng Ngãi) là trung tâm tranh chấp. Bà N có GCN ngày 30/10/2014 (diện tích 721,9m²). Bà T không có GCN nhưng đã sử dụng đất này từ trước năm 1963 (khai hoang), sau giải phóng 1975 quản lý liên tục cho đến nay, có bụi tre và cây xoài lâu năm. Bà N cho rằng diện tích 114,9m² nằm trong GCN của bà đang bị bà T xâm phạm (đóng trụ bê tông, đổ đất).
Tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy: (1) GCN của bà N cấp năm 2014 không có chữ ký xác nhận ranh giới của bà T (vi phạm Thông tư 25/2014/TT-BTNMT); (2) Kết luận giám định chữ ký: chữ ký bà T trong biên bản mô tả ranh giới 2013 là giả mạo; (3) Bà N tự thừa nhận tại phiên sơ thẩm: "cán bộ tự kê khai rồi đưa cho bà ký"; (4) Thứ tự cấp GCN bất thường: cấp ngày 30/10/2014 nhưng vào sổ ngày 30/6/2015.
Sơ thẩm: Bác đơn bà N, hủy GCN của bà N. Phúc thẩm: giữ nguyên. [1.1] Qua lời khai của các đương sự, người sinh sống lâu năm, ý kiến của chính quyền địa phương... có căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp 114,9m² tại thửa đất số 110 có nguồn gốc là của ông Trần Đ1, bà Phạm Thị B2 (cha mẹ bà T) khai hoang trước năm 1963 và sau giải phóng 1975 bà T quản lý, sử dụng cho đến nay. [1.2] Tại Kết luận giám định số 921/KLGĐ-PC09 ngày 26/10/2021 của Công an tỉnh Q xác định chữ ký người sử dụng đất (Tạm, Trần Thị T) trong bản mô tả, ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 17/4/2013 không phải của bà Trần Thị T — phù hợp lời trình bày của bà T.
Việc cấp GCN tại thửa đất số 110 cho bà N không đúng trình tự thủ tục quy định tại Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP. UBND huyện B cấp GCN cho hộ bà N đã xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà T.
[2] Tòa án cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu của nguyên đơn bà N đồng thời hủy GCN của bà N là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại phúc thẩm nguyên đơn kháng cáo nhưng không có chứng cứ nào mới → không chấp nhận.
Điểm pháp lý nổi bật:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS; NQ 326/2016/UBTVQH14:
Q1: GCN đã được cấp có thể bị hủy không? Căn cứ nào để hủy? A: Có. GCN có thể bị hủy khi: (1) Cấp không đúng trình tự thủ tục (thiếu xác nhận ranh giới người liền kề); (2) Hồ sơ có chữ ký giả mạo; (3) Cấp cho người không có quyền sử dụng đất; (4) Xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người khác. Trong vụ này, tất cả 4 căn cứ đều hiện diện.
Q2: Người sử dụng đất lâu dài nhưng không có GCN có được bảo vệ không khi bị người khác đòi đất bằng GCN? A: Có, nếu GCN đó cấp sai. Tòa xem xét nguồn gốc thực tế và lịch sử sử dụng đất. Bà T sử dụng liên tục từ trước 1963, sau 1975 đến nay — được ưu tiên bảo vệ. GCN của bà N không làm mất quyền của bà T khi chính GCN đó cấp sai trình tự và tài liệu giả mạo.
Q3: Thủ tục cấp GCN bắt buộc phải có xác nhận ranh giới của người sử dụng đất liền kề không? A: Có, theo Thông tư 25/2014/TT-BTNMT (và các quy định liên quan). Người liền kề phải ký xác nhận mốc giới khi đo đạc địa chính. Thiếu chữ ký này là vi phạm thủ tục nghiêm trọng, dẫn đến GCN cấp không hợp lệ.
Q4: Chữ ký bị làm giả trong hồ sơ địa chính, ai chịu trách nhiệm? A: Trực tiếp: người làm giả chữ ký (có thể bị truy cứu hình sự tội làm giả tài liệu). Gián tiếp: cơ quan cấp GCN nếu thiếu kiểm tra. Hệ quả dân sự: GCN cấp trên cơ sở hồ sơ giả mạo bị hủy.
Q5: "Cán bộ tự kê khai rồi đưa cho bà ký" — người được hưởng lợi từ GCN sai có vô can không? A: Không hoàn toàn. Dù bà N có thể không trực tiếp làm giả chữ ký, GCN được cấp vẫn bị hủy vì không hợp pháp. Trách nhiệm dân sự: mất GCN. Đây là rủi ro nghiêm trọng khi để cán bộ tự làm hồ sơ thay mình mà không kiểm tra kỹ.
Q6: Sau khi GCN của bà N bị hủy, đất 721,9m² về tay ai? A: Vụ án này chỉ giải quyết hủy GCN và bác yêu cầu của bà N. Quyền của bà T đối với 114,9m² được gián tiếp xác nhận. Phần đất còn lại của thửa 110 chưa có GCN → UBND cần giải quyết lại theo quy định (có thể cấp GCN cho bà T hoặc theo hồ sơ khiếu nại mới).
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG BẢN ÁN 92/2024/DS-PT NGÀY 03/04/2024 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ YÊU CẦU THÁO DỠ TÀI SẢN TRÊN ĐẤT Ngày 03/4/2024, tại TAND Cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 308/2023/TLPT-DS ngày 01/12/2023. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2023/DS-ST ngày 18/8/2023 của TAND tỉnh Quảng Ngãi bị kháng cáo.
ĐƯƠNG SỰ:
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà N (nguyên đơn): Nguyên thửa đất 110 (BĐ 29, 721,9m²) là do cha bà N khai phá từ khoảng 1979-1982, sau đó qua nhiều đợt chuyển nhượng. Bà N được cấp GCN BS540545 ngày 30/10/2014. Năm 2019 bà T đổ đất và đóng 04 trụ bê tông chiếm 114,9m². Yêu cầu: bà T trả 114,9m² và tháo dỡ 04 trụ bê tông + cây mít.
Bà T (bị đơn): Cha mẹ bà T khai hoang thửa đất này trước năm 1963. Sau 1975, bà T quản lý sử dụng liên tục. Trên đất có bụi tre và cây xoài (đã chết, còn gốc) — bằng chứng của bà T. Bà T không biết bà N kê khai đất này để xin GCN.
Bà N thừa nhận tại sơ thẩm: "cán bộ tự kê khai rồi đưa cho bà N ký đơn".
Chứng cứ quan trọng:
BẢN ÁN SƠ THẨM (18/2023/DS-ST):
NHẬN ĐỊNH (Phúc thẩm):
[1.1] Nguồn gốc 114,9m² tranh chấp: cha mẹ bà T khai hoang trước 1963, bà T quản lý từ 1975 — có căn cứ. [1.2] Giám định chữ ký → chữ ký bà T trong biên bản ranh giới là giả mạo. GCN cấp không đúng Thông tư 25/2014 và Nghị định 43/2014. Cấp GCN cho bà N xâm phạm quyền lợi hợp pháp của bà T.
[2] Sơ thẩm bác đơn bà N và hủy GCN là đúng pháp luật. Bà N kháng cáo không có chứng cứ mới → không chấp nhận.
[3] Bà N người cao tuổi → miễn án phí phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn
| Số bản án | 92/2024/DS-PT |
| Toà án | TAND Cấp cao tại Đà Nẵng |
| Ngày xét xử | 01/01/2024 |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Lĩnh vực | Đất đai & Bất động sản |
| Tỉnh/Thành | Quang Ngai |
| Về việc | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Nhóm án | tranh_chap_qsdd |
| Tags | huy-GCNchu-ky-gia-maokhong-su-dung-datTT25-2014thu-tuc-cap-GCN |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

