BẢN ÁN 193/2023/DS-PT — Tranh chấp QSDĐ (GCN cấp chồng nhau, 137m²)
TAND TỈNH BÌNH PHƯỚC
BẢN ÁN 193/2023/DS-PT NGÀY 01/01/2023 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
TAND TỈNH BÌNH PHƯỚC BẢN ÁN 193/2023/DS-PT NGÀY 01/01/2023 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Hộ bà Thị Sâm R có GCN số 975 ngày 09/10/2000 (5 thửa 240, 241, 266, 267, 329; tổng 7.771m²; đo đạc chính quy năm 1999). Phần đất tranh chấp là một phần thửa 329.
Năm 2002, UBND huyện L cấp thêm GCN số 42 ngày 26/12/2002 cho ông Vi Hữu T (137m², trong thửa 329 của bà R). Ông T mua đất từ ông Nguyễn Văn Đ (viết tay, không giấy tờ công chứng). UBND xã L tự thừa nhận việc tham mưu cấp GCN cho ông T là "sai" vì không theo đo đạc chính quy và cấp chồng lên GCN của bà R.
Sơ thẩm: chấp nhận bà R, buộc ông T trả đất + UBND huyện thu hồi GCN ông T. Phúc thẩm: sửa — phần "UBND huyện thu hồi GCN" → chuyển thành "kiến nghị thu hồi theo thủ tục hành chính" (không phải tòa hủy theo thủ tục tư pháp).
[3] Ủy ban nhân dân huyện L đã chứng nhận hộ bà Thị Sâm R được QSDĐ 7.771m² (các thửa 240, 241, 266, 267 và 329) theo GCN số 975 ngày 09/10/2000. Trình tự thủ tục cấp đúng quy định pháp luật. Sau khi cấp GCN không có ai khiếu nại. Như vậy GCN đã cấp cho bà Thị Sâm R là hoàn toàn hợp pháp.
[6] Đất đã giao cho hộ bà R chưa thu hồi thì lại giao cho ông T là không đúng quy định. Ông T thừa nhận mua đất của ông Đ từ năm 2002 nhưng GCN cấp cho ông T lại xác định nguồn gốc sang nhượng năm 1998 — mâu thuẫn.
UBND xã L đã xác định hồ sơ xét cấp GCN cho hộ ông Vi Hữu T là sai, thửa đất cấp chồng lên thửa của hộ bà Thị Sâm R.
[1] Bản án sơ thẩm tuyên "UBND huyện thu hồi GCN ông T" không rõ là hủy GCN theo thủ tục hành chính hay tố tụng hành chính. Cần sửa thành kiến nghị UBND huyện thu hồi GCN theo thủ tục hành chính (Điều 87 NĐ 43/2014, Điều 106 LĐĐ). Đây là thiếu sót có thể khắc phục, không cần hủy án.
Điểm pháp lý nổi bật:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS 2015; NQ 326/2016:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Vi Hữu T; Chấp nhận một phần kháng nghị VKS. Sửa một phần Bản án sơ thẩm 13/2022/DS-ST:
Q1: Khi 2 hộ cùng có GCN trên cùng một thửa đất, tòa xác định GCN nào có giá trị? A: Tòa xem xét: (1) GCN nào cấp trước, theo đúng trình tự thủ tục; (2) GCN nào gắn với quy trình đo đạc chính quy; (3) UBND có thu hồi GCN cũ trước khi cấp GCN mới không. Trong vụ này: GCN bà R cấp năm 2000 theo đo đạc chính quy, hợp lệ. GCN ông T cấp năm 2002 không theo đo đạc chính quy và không thu hồi GCN bà R trước → GCN ông T sai.
Q2: Tòa dân sự có thể trực tiếp hủy GCN (quyết định hành chính) không? A: Không theo thủ tục tố tụng hành chính. Tòa dân sự giải quyết tranh chấp đất; nếu cần hủy GCN thì: (a) Kiến nghị UBND thu hồi theo thủ tục hành chính (Điều 87 NĐ 43/2014, Điều 106 LĐĐ); hoặc (b) Đương sự khởi kiện hành chính riêng để tòa hành chính hủy GCN. Tòa sơ thẩm vụ này "tuyên UBND thu hồi" không rõ loại thủ tục nào → bị sửa.
Q3: UBND xã tự thừa nhận cấp GCN sai — có giá trị pháp lý trong vụ kiện dân sự không? A: Có, là bằng chứng quan trọng. Văn bản UBND xã xác nhận "hồ sơ cấp GCN cho ông T là sai" được tòa sử dụng làm căn cứ xác định GCN ông T không hợp pháp.
Q4: Người mua đất viết tay từ người khác (ông Đ mua của ông Lâm R) — khi nguồn gốc sai thì sao? A: Nếu người bán không có quyền bán (ông Lâm R không có quyền với đất của bà R), thì người mua (ông Đ) cũng không có quyền, và người mua lại (ông T) cũng không có quyền — theo nguyên tắc "nemo plus juris" (không thể chuyển quyền nhiều hơn mình có). Ông T mất đất và chỉ có thể kiện ông Đ để đòi lại tiền.
Q5: GCN ghi sai năm chuyển nhượng (ghi 1998 nhưng thực tế 2002) ảnh hưởng thế nào? A: Là bằng chứng thêm về tính không hợp pháp của GCN ông T. Sự mâu thuẫn giữa lời khai (mua 2002) và GCN (ghi 1998) cho thấy hồ sơ không trung thực, hỗ trợ kết luận GCN cấp sai.
Q6: Sau khi tòa kiến nghị thu hồi GCN ông T, quy trình tiếp theo là gì? A: UBND huyện L (dựa trên bản án có hiệu lực) ra quyết định hành chính thu hồi GCN số 42. Bà R sau đó có thể yêu cầu cập nhật GCN của mình (hoặc đăng ký GCN mới bao gồm phần 137m² vừa lấy lại).
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC BẢN ÁN 193/2023/DS-PT NGÀY 29/09/2023 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Trong các ngày 25 và 29/9/2023, tại TAND tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 47/2022/TLPT-DS ngày 11/5/2022. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2022/DS-ST ngày 18/3/2022 của TAND huyện L bị kháng cáo và kháng nghị.
ĐƯƠNG SỰ:
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Thị Sâm R có GCN số 975 (09/10/2000): 5 thửa 240, 241, 266, 267, 329 (BĐ 2, tổng 7.771m²). Đo đạc chính quy năm 1999. Bà R thực hiện nghĩa vụ tài chính và nhận GCN năm 2017.
Ông Vi Hữu T có GCN số 42 (26/12/2002): 137m² (trong thửa 329 của bà R). Ông T mua từ ông Nguyễn Văn Đ năm 2002 (ông Đ mua từ ông Lâm R — giấy tay). UBND xã L tham mưu cấp GCN cho ông T không theo đo đạc chính quy.
Đầu 2019, khi bà R làm thủ tục chuyển nhượng đất cho bà Ng, phát hiện phần 137m² trong thửa 329 của bà đã có GCN cấp cho ông T. UBND xã L sau đó xác nhận việc cấp GCN cho ông T là sai. Bà R kiện.
BẢN ÁN SƠ THẨM (13/2022/DS-ST):
Ông T kháng cáo. VKS kháng nghị (hủy án vì vi phạm thủ tục).
NHẬN ĐỊNH (Phúc thẩm):
[1] VKS kháng nghị về thẩm quyền: Sơ thẩm tuyên "UBND huyện thu hồi GCN" không rõ loại thủ tục → không phù hợp. Cần kiến nghị thu hồi theo thủ tục hành chính. Thiếu sót này có thể khắc phục → không cần hủy án.
[3] GCN bà R: hợp pháp, đúng trình tự.
[6] GCN ông T cấp không theo đo đạc chính quy, chồng lên GCN bà R (đã cấp trước), nguồn gốc ghi sai năm. UBND xã L xác nhận sai. GCN ông T sai. → Bác kháng cáo ông T; chấp nhận một phần kháng nghị VKS. [Án phí, chi phí đã nêu ở trên.]
QUYẾT ĐỊNH (đã nêu đầy đủ ở mục 4).
Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn
| Số bản án | 193/2023/DS-PT |
| Toà án | TAND tỉnh Bình Phước |
| Ngày xét xử | 01/01/2023 |
| Cấp xét xử | Phúc thẩm |
| Lĩnh vực | Đất đai & Bất động sản |
| Tỉnh/Thành | Binh Phuoc |
| Về việc | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Nhóm án | tranh_chap_qsdd |
| Tags | GCN-chong-nhaudo-dac-chinh-quyUBND-cap-saikien-nghi-thu-hoi-GCNDieu-106-LDD |
| Nguồn | Cổng công bố bản án TAND Tối cao |
Tải bản án PDF
Bản án đầy đủ đã được ẩn danh theo NĐ 13/2023, giữ nguyên nội dung nhận định và quyết định của Toà án.
⬇️ Tải PDF gốc

