Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
153/2024/DS-PTĐất đai & Bất động sảnPhúc thẩm

BẢN ÁN 153/2024/DS-PT — Tranh chấp QSDĐ, yêu cầu di dời hàng rào

Tòa án: TAND tỉnh Tiền GiangNgày: 01/01/2024Tỉnh/Thành: Tien GiangVề việc: Tranh chấp ranh giới, lối đi

BẢN ÁN 153/2024/DS-PT — Tranh chấp QSDĐ, yêu cầu di dời hàng rào


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án153/2024/DS-PT
Ngày tuyên15/03/2024
Tòa ánTAND tỉnh Tiền Giang (xét xử phúc thẩm)
Tòa sơ thẩmTAND huyện G, tỉnh Tiền Giang (BA 275/2023/DS-ST ngày 15/8/2023)
Loại tranh chấpTranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời hàng rào
Nguyên đơnBà Nguyễn Thị L (SN 1963)
Bị đơnÔng Nguyễn Văn T (SN 1966)
Kết quả phúc thẩmHủy toàn bộ bản án sơ thẩm — giao xét xử lại (do vi phạm thủ tục tố tụng)
Người kháng cáoNguyên đơn bà Nguyễn Thị L

2. TÓM TẮT

Bà L sở hữu thửa đất số 6, tờ BĐ 41, diện tích 153,7m² tại khu phố C, thị trấn V, huyện G, Tiền Giang (GCN số H00337 ngày 22/8/2008). Ông T kề bên có thửa 834, tờ BĐ 2, diện tích 150m² (GCN số 01660 ngày 19/11/2002). Năm 2011, khi ông T lấp ao phía Bắc và xây hàng rào khép kín, bà L phát hiện hàng rào ông T lấn qua đất bà khoảng 0,8m (hình tam giác, ~6m²).

Bà L khởi kiện yêu cầu ông T trả lại 6m² và di dời hàng rào. Tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà L, công nhận QSDĐ hai bên theo diện tích thực tế đo đạc. Bà L kháng cáo.

Tại phúc thẩm, VKS và HĐXX phát hiện nhiều thiếu sót tố tụng nghiêm trọng: (1) Chưa làm rõ thửa đất là tài sản cá nhân bà L hay tài sản chung với chồng là ông Lia Kai C (quốc tịch Đài Loan); (2) Ông Bùi Duy N đang thực tế sử dụng một phần cả hai thửa đất nhưng không được đưa vào tố tụng; (3) Chưa làm rõ việc mở rộng đường có sử dụng đất thửa 834 hay không. Do không thể khắc phục ở cấp phúc thẩm, TAND tỉnh hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao xét xử lại.


3. ⭐ NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[2] Hồ sơ vụ án thể hiện ông Lia Kai C kết hôn với bà Nguyễn Thị L vào năm 2010, ông Lia Kai C cho rằng ông cho tiền bà L mua đất — Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ thửa đất tranh chấp là tài sản của cá nhân bà L hay là tài sản chung của vợ chồng.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ không thể hiện trụ ranh như trình bày của các đương sự. Ông N có sử dụng phần đất thuộc hai thửa đất nhưng không đưa ông tham gia tố tụng là thiếu sót.

Để xem xét yêu cầu kháng cáo của bà cần xác định chính xác kích thước cạnh hướng Bắc của thửa đất này. Tuy vậy, trên Phiếu xác nhận kết quả đo đạc... không thể hiện nội dung này. Đây là vấn đề mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm mà Hội đồng xét xử phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần hủy Bản án sơ thẩm.

Điểm pháp lý nổi bật:

  • Khi một trong các bên kết hôn với người nước ngoài, cần xác định ngay tài sản mua trước/sau hôn nhân, tài sản chung hay riêng.
  • Người thực tế đang sử dụng đất (dù không phải chủ GCN) phải được đưa vào tham gia tố tụng.
  • Biên bản thẩm định tại chỗ thiếu nội dung cần xác định là căn cứ hủy án.
  • Mở rộng đường ảnh hưởng đến diện tích thực của thửa đất phải được làm rõ.

4. ⚖️ QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 313, Điều 148 và Điều 296 BLTTDS:

  1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 275/2023/DS-ST ngày 15/8/2023 của TAND huyện G, tỉnh Tiền Giang.
  2. Giao hồ sơ về cho TAND huyện G xét xử lại theo trình tự sơ thẩm.
  3. Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được nhận lại 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

5. ❓ Q&A TRAINING

Q1: Tại sao tòa hủy án thay vì sửa án trong vụ tranh chấp ranh giới đất này? A: Tòa phúc thẩm hủy án khi phát hiện vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà không thể khắc phục ở cấp phúc thẩm. Cụ thể: thiếu người tham gia tố tụng (ông N đang sử dụng đất), chưa xác định rõ tài sản chung/riêng, biên bản thẩm định thiếu dữ liệu cần thiết. Những thiếu sót này ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự và kết quả giải quyết vụ án.

Q2: Người nước ngoài lấy vợ/chồng là người Việt, đất đứng tên người Việt có bị coi là tài sản chung không? A: Phụ thuộc vào thời điểm mua đất. Nếu mua trước hôn nhân: tài sản riêng. Nếu mua sau hôn nhân bằng tiền chung: tài sản chung. Tuy nhiên người nước ngoài (như ông C quốc tịch Đài Loan) không thuộc đối tượng được cấp QSDĐ tại Việt Nam. Tòa cần làm rõ nguồn tiền và bản chất tài sản trước khi xét xử. Đây là lý do tòa phải hủy án để điều tra lại.

Q3: Hàng rào xây dựng có được dùng làm ranh giới đất không? A: Không mặc nhiên. Ranh giới pháp lý được xác định bởi hồ sơ địa chính, bản đồ, GCN và đo đạc thực địa. Hàng rào chỉ phản ánh "hiện trạng sử dụng" — không có giá trị pháp lý xác lập ranh giới nếu mâu thuẫn với GCN.

Q4: Việc mở rộng đường công cộng ảnh hưởng đến tranh chấp đất như thế nào? A: Nếu mở đường có lấy đất thửa 834 của ông T, thì diện tích thực của ông T giảm. Điều này ảnh hưởng đến việc xác định ông T có lấn sang đất bà L hay không. Đây là thông tin bắt buộc phải làm rõ trước khi xét xử.

Q5: Người đang thực tế sử dụng đất (ông N) dù không phải chủ GCN có phải tham gia tố tụng không? A: Có. Theo BLTTDS, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải được đưa vào tham gia tố tụng. Ông N đang dùng phần đất thuộc cả hai thửa tranh chấp — bản án sơ thẩm sẽ ảnh hưởng đến ông N. Bỏ sót ông N là vi phạm thủ tục nghiêm trọng.

Q6: Biên bản thẩm định tại chỗ của tòa thiếu nội dung quan trọng, hậu quả pháp lý là gì? A: Biên bản thẩm định là tài liệu tố tụng quan trọng. Nếu thiếu nội dung mà tòa cần để xét xử (ví dụ: kích thước cạnh đất phía Bắc), đây là cơ sở để hủy án và yêu cầu thẩm định lại ở cấp sơ thẩm.


6. TỪ KHÓA SEO

  • tranh chấp ranh giới đất Tiền Giang
  • lấn chiếm đất xây hàng rào bê tông
  • hủy bản án sơ thẩm vi phạm thủ tục
  • người nước ngoài mua đất Việt Nam
  • đất tài sản riêng hay tài sản chung
  • thiếu người tham gia tố tụng hủy án
  • biên bản thẩm định tại chỗ thiếu nội dung
  • mở rộng đường ảnh hưởng diện tích đất
  • hàng rào không là ranh giới pháp lý
  • tranh chấp đất khu phố thị trấn 2024
  • bản án dân sự sơ thẩm bị hủy 2024
  • thẩm quyền tòa án tranh chấp đất
  • Điều 308 BLTTDS hủy bản án
  • đất đứng tên vợ chồng sau hôn nhân
  • quốc tịch Đài Loan mua đất Việt Nam

7. TOÀN VĂN GỐC

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 153/2024/DS-PT NGÀY 15/03/2024 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 15 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2024/TLPT-DS ngày 22/01/2024 về việc tranh chấp "Quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời hàng rào". Do Bản án dân sự sơ thẩm số 275/2023/DS-ST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện G bị kháng cáo.

ĐƯƠNG SỰ:

  • Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, SN 1963. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Thị Kim H, SN 1960.
  • Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, SN 1966.
  • NLQ: Ông Lia Kai C (SN 1953, quốc tịch Đài Loan); Bà Nguyễn Thị Đ (SN 1964, vợ ông T).
  • Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn My T1 (SN 1966).
  • Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà L có GCN thửa đất số 6, tờ BĐ số 41, 153,7m² (cấp 22/8/2008). Nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn My T1 năm 2008. Phía Đông giáp đất ông Nguyễn Văn T.

Ông T có GCN thửa 834, tờ BĐ số 2, 150m² (cấp 19/11/2002). Khi ông T nhận đất 2002, phần phía Bắc là ao. Năm 2011, ông T lấp ao và xây tường rào khép kín. Bà L cho rằng khi lấp ao phía Bắc, ông T xây hàng rào lấn qua đất bà 0,8m (hình tam giác, ~6m²). Hai bên tranh chấp từ năm 2012.

Tòa sơ thẩm: Không chấp nhận yêu cầu bà L. Công nhận QSDĐ hai bên theo đo đạc thực tế (bà L: 145,7m²; ông T: 137,2m²). Bà L kháng cáo.

BẢN ÁN SƠ THẨM (275/2023/DS-ST):

  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.
  • Công nhận QSDĐ cho bà L (145,7m²) và ông T (137,2m²) theo đo đạc thực tế.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN (Phúc thẩm):

[1] Tố tụng: Kháng cáo hợp lệ. Quan hệ tranh chấp QSDĐ xác định đúng. Ông Lia Kai C quốc tịch Đài Loan không thuộc đối tượng được cấp QSDĐ tại Việt Nam nên không cần đưa vào tố tụng.

[2] Nội dung: Hồ sơ vụ án cho thấy ông Lia Kai C cho tiền bà L mua đất nhưng tòa sơ thẩm chưa làm rõ đây là tài sản riêng bà L hay tài sản chung vợ chồng. Kết quả đo đạc ngày 23/3/2023 không thể hiện kích thước cạnh hướng Bắc của thửa đất. Ông Bùi Duy N đang sử dụng một phần thửa 6 và 834 nhưng không được đưa vào tố tụng — thiếu sót. Tòa sơ thẩm chưa làm rõ việc mở đường có lấy phần đất thửa 834 không.

Đây là vấn đề mới phát sinh tại phúc thẩm không thể khắc phục, phải hủy bản án sơ thẩm.

[3] Án phí: Do hủy án sơ thẩm nên bà L không phải chịu án phí phúc thẩm.

[4] Ý kiến VKS phù hợp nhận định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 313, Điều 148 và Điều 296 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 275/2023/DS-ST ngày 15/8/2023 của TAND huyện G, tỉnh Tiền Giang. Giao hồ sơ vụ án cho TAND huyện G xét xử lại theo trình tự sơ thẩm.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn lại cho bà L 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.