Công ty Luật Phú Nhuận
Công ty Luật Phú NhuậnCông ty Luật Phú Nhuận
161/2024/DS-PTĐất đai & Bất động sảnPhúc thẩm

BẢN ÁN 161/2024/DS-PT — Tranh chấp ranh giới QSDĐ và bồi thường thiệt hại tài sản

Tòa án: TAND tỉnh Đồng ThápNgày: 01/01/2024Tỉnh/Thành: Dong ThapVề việc: Tranh chấp ranh giới, lối đi

BẢN ÁN 161/2024/DS-PT — Tranh chấp ranh giới QSDĐ và bồi thường thiệt hại tài sản


1. METADATA

TrườngNội dung
Số bản án161/2024/DS-PT
Ngày tuyên04/04/2024
Tòa ánTAND tỉnh Đồng Tháp (xét xử phúc thẩm)
Tòa sơ thẩmTAND huyện Tam Nông (BA 51/2023/DS-ST ngày 31/10/2023)
Loại tranh chấpTranh chấp ranh giới QSDĐ và bồi thường thiệt hại về tài sản
Nguyên đơnBà Đặng Thị M (SN 1949)
Bị đơnChị Hoàng Thị Như N (SN 1989) và anh Trần Minh Đ (SN 1981)
Kết quả phúc thẩmSửa một phần bản án sơ thẩm (tăng bồi thường từ 100 triệu → 120 triệu đồng)
Người kháng cáoNguyên đơn bà Đặng Thị M

2. TÓM TẮT

Năm 2010, bà M nhận chuyển nhượng 600m² đất (thửa 2833, tờ BĐ số 6) tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp và được cấp GCN. Vì đất trũng chưa có tiền thổi cát, bà để trống không sử dụng. Năm 2019, chị N mua đất kề bên (1.076m², thửa 2384+2342, tờ BĐ số 6) và xây dựng homestay. Năm 2022, bà M phát hiện chị N đã đổ đất tôn cao, xây tường bó nền và lấn qua đất bà M diện tích 66,7m², đồng thời chặt 20 cây gáo bà trồng.

Bà M khởi kiện yêu cầu chị N trả lại 66,7m² và bồi thường giá trị cây. Tòa sơ thẩm xác định theo GCN thì phần đất 66,7m² thuộc quyền bà M, nhưng do chị N đã xây công trình kiên cố và không cố ý lấn chiếm, nên buộc chị N trả giá trị quyền sử dụng đất (100 triệu đồng, gấp ~3 lần giá HĐ định giá) thay vì hoàn trả đất. Tại phúc thẩm, anh Đ tự nguyện trả thêm 20 triệu, TAND tỉnh sửa án thành 120 triệu đồng.


3. ⭐ NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[2] Căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà M và chị N1 thì yêu cầu khởi kiện của bà M là có căn cứ. Tuy nhiên, chị N1 là đất của chị nên đổ đất tôn cao, xây dựng bờ tường, bó nền móng kiên cố... Diện tích 66,7m² chị N1 đã xây dựng công trình, vật kiến trúc đã hoàn chỉnh nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị N1 trả giá trị cho bà M tương đương gấp ba lần so với giá đất của Hội đồng định giá đã định nhằm khắc phục một phần thiệt hại cho bà M khi giao diện tích 66,7m² cho chị N1 tiếp tục sử dụng. Tại phiên tòa phúc thẩm anh Đ đồng ý trả thêm cho bà M 20.000.000 đồng; tổng cộng là 120.000.000 đồng. Đây là sự tự nguyện của chị N1 và anh Đ là có lợi cho bà M nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện này.

Điểm pháp lý nổi bật:

  • Tòa áp dụng hướng giải quyết linh hoạt: khi đất đã bị xây dựng công trình kiên cố, không buộc trả đất mà chuyển sang bồi thường bằng tiền gấp 3 lần giá nhà nước.
  • GCN là chứng cứ pháp lý quyết định xác định ranh giới; bên không có GCN rõ ràng sẽ thua.
  • Sự tự nguyện nâng bồi thường tại phúc thẩm được ghi nhận và sửa bản án.

4. ⚖️ QUYẾT ĐỊNH

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Đặng Thị M về yêu cầu hoàn trả 66,7m² đất.
  2. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị Như N và anh Trần Minh Đ trả thêm 20.000.000 đồng giá trị đất cho bà M.
  3. Sửa một phần án sơ thẩm:
    • Xác định ranh giới QSDĐ giữa thửa 665 (bà M) và thửa 661 (chị N) là đường thẳng từ mốc 02 đến mốc 08 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/5/2023.
    • Chị Hoàng Thị Như N và anh Trần Minh Đ liên đới trả 120.000.000 đồng giá trị QSDĐ 66,7m² cho bà M.
    • Chị N và anh Đ liên đới trả 8.035.000 đồng chi phí đo đạc, định giá tài sản.
  4. Bà M được miễn án phí phúc thẩm (người cao tuổi).

5. ❓ Q&A TRAINING

Q1: Khi ranh giới đất bị lấn chiếm nhưng bên lấn chiếm đã xây công trình kiên cố, tòa án giải quyết như thế nào? A: Tòa thường không buộc phá dỡ ngay nếu công trình đã hoàn chỉnh và bên lấn chiếm không cố ý. Thay vào đó, tòa có thể buộc trả giá trị quyền sử dụng đất bằng tiền, thường được định giá cao hơn giá nhà nước để bù đắp thiệt hại cho người bị lấn chiếm. (BA 161/2024 — bồi thường 120 triệu cho 66,7m²)

Q2: Tại sao bà M không đòi được đất dù có GCN hợp pháp? A: GCN xác nhận quyền pháp lý của bà M, nhưng thực tế chị N đã xây homestay hoàn chỉnh trên phần đất đó. Tòa cân nhắc tính khả thi thi hành án: buộc phá dỡ sẽ gây thiệt hại lớn cho chị N vì không cố ý, nên chuyển hướng sang bồi thường tiền. Đây là quyền tự định đoạt của tòa trong bối cảnh không thể thi hành "trả đất nguyên trạng".

Q3: Đất bỏ trống nhiều năm không sử dụng có bị mất quyền khi xảy ra tranh chấp không? A: Không. Quyền sử dụng đất được xác lập bởi GCN, không phụ thuộc vào việc có canh tác hay không. Tuy nhiên, việc không quản lý thực tế tạo điều kiện cho bên khác xây dựng, khiến giải pháp "hoàn trả đất" trở nên khó khả thi, dẫn đến thiệt hại cho người bị lấn chiếm.

Q4: Diện tích đất trên GCN và đo đạc thực tế có thể chênh nhau không? A: Có và phổ biến. Trong vụ này: Bà M có GCN 600m², đo thực tế 648m² (thừa 48m²); chị N có GCN 1.076m², đo thực tế 1.530m² (thừa 454m²). Chênh lệch này xảy ra do nhiều đợt đo đạc với bản đồ khác nhau. Tòa căn cứ GCN làm cơ sở pháp lý để xác định ranh giới.

Q5: Sự tự nguyện tăng bồi thường của bị đơn tại phiên phúc thẩm có được chấp nhận không? A: Có. Tòa ghi nhận và sửa bản án tương ứng. Sự tự nguyện có lợi cho nguyên đơn luôn được tòa chấp nhận theo nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự (Điều 308 BLTTDS).

Q6: Việc chuyển nhượng đất không có đo đạc thực tế khi làm GCN có hậu quả gì? A: Khi chuyển nhượng hết diện tích thửa, cơ quan địa chính thường không đo đạc lại mà dùng số liệu cũ. Điều này dẫn đến sai lệch ranh giới thực địa so với bản đồ và là nguyên nhân phổ biến của tranh chấp ranh giới đất.


6. TỪ KHÓA SEO

  • tranh chấp ranh giới đất đồng tháp
  • lấn chiếm đất làm homestay
  • bồi thường giá trị quyền sử dụng đất
  • xây công trình trên đất người khác
  • giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm ranh giới
  • đất để trống bị lấn chiếm
  • tòa án xử lấn chiếm đất 2024
  • bản án tranh chấp ranh giới 2024
  • không trả đất phải trả tiền
  • bồi thường 3 lần giá đất
  • tranh chấp đất nông nghiệp đồng tháp
  • tự nguyện tăng bồi thường tại phúc thẩm
  • đất bỏ trống nhiều năm bị chiếm
  • mốc ranh giới quyền sử dụng đất
  • hội đồng định giá đất tranh chấp

7. TOÀN VĂN GỐC

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 161/2024/DS-PT NGÀY 04/04/2024 VỀ TRANH CHẤP RANH GIỚI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TÀI SẢN

Ngày 04 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 53/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 01 năm 2024, về việc "Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại về tài sản".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Tam Nông bị kháng cáo.

ĐƯƠNG SỰ:

  • Nguyên đơn: Đặng Thị M, sinh năm 1949. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn H.
  • Bị đơn: Hoàng Thị Như N, sinh năm 1989. Người đại diện: Trần Minh Đ, SN 1981.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Minh Đ, SN 1981.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Năm 2010, bà M nhận chuyển nhượng từ ông Trần Huy B diện tích 600m² và được cấp GCN ngày 26/01/2010 tại thửa 2833, tờ bản đồ số 06. Do đất trũng thấp chưa có tiền thổi cát nên chưa sử dụng. Đến tháng 7/2022 mới biết chị N đổ đất tôn cao, xây tường bó nền làm homestay và lấn ranh qua đất bà 141m² (ban đầu), sau đo đạc xác định 66,7m². Chị N nhận chuyển nhượng từ ông Phạm Thanh T năm 2019, được cấp GCN ngày 22/9/2020 với diện tích 1.076m².

Theo sơ đồ đo đạc: Bà M thực tế 648,1m² (GCN 600m²); Chị N thực tế 1.530,7m² (GCN 1.076m²). Chi nhánh VP ĐKĐĐ huyện xác định 66,7m² đang tranh chấp thuộc thửa 665 của bà M.

BẢN ÁN SƠ THẨM (51/2023/DS-ST):

  • Đình chỉ yêu cầu bồi thường cây trồng (bà M rút).
  • Chấp nhận yêu cầu về ranh giới 66,7m².
  • Chị N và anh Đ liên đới trả giá trị QSDĐ 100.000.000 đồng (tự nguyện gấp ~3 lần giá HĐ định giá 31.216.000 đồng).
  • Xác định ranh giới từ mốc 02 đến mốc 08.
  • Chi phí đo đạc, định giá: 8.035.000 đồng do chị N, anh Đ chịu.

TẠI PHÚC THẨM: Anh Đ đồng ý trả thêm 20.000.000 đồng, tổng 120.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bà M kháng cáo yêu cầu chị N1 trả lại 66,7m² và xác định ranh giới là mốc 3 đến mốc 8.

[2] Bà M nhận chuyển nhượng đất, được cấp GCN. Sau khi nhận chuyển nhượng đất bỏ trống. Chị N1 xây dựng công trình có lẽ không cố ý lấn chiếm trong khi đất bà M cặp ranh bỏ trống, không ai quản lý. Diện tích 66,7m² chị N1 đã xây dựng công trình, vật kiến trúc đã hoàn chỉnh nên Tòa cấp sơ thẩm buộc chị N1 trả giá trị tương đương gấp ba lần giá đất HĐ định giá nhằm khắc phục thiệt hại cho bà M. Tại phiên tòa phúc thẩm anh Đ đồng ý trả thêm cho bà M 20.000.000 đồng; tổng cộng là 120.000.000 đồng — sự tự nguyện có lợi cho bà M nên chấp nhận. Do đó không chấp nhận kháng cáo của bà M.

[3] Bản án sơ thẩm có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Tuy nhiên tại phúc thẩm có tăng bồi thường nên sửa một phần.

[4] Ý kiến VKS phù hợp nhận định của HĐXX.

[5] Bà M là người cao tuổi, được miễn án phí phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đặng Thị M.
  2. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị Như N và anh Trần Minh Đ trả thêm 20.000.000 đồng. Sửa một phần Bản án 51/2023/DS-ST:
    • Đình chỉ yêu cầu bồi thường cây trồng 10.000.000 đồng.
    • Xác định ranh giới QSDĐ giữa thửa 665 (bà M) và thửa 661 (chị N) là đường thẳng từ mốc số 02 đến mốc số 08 (theo sơ đồ đo đạc 05/5/2023 của Chi nhánh VP ĐKĐĐ huyện T).
    • Chị Hoàng Thị Như N và anh Trần Minh Đ liên đới trả giá trị QSDĐ 66,7m² cho bà Đặng Thị M: 120.000.000 đồng.
    • Chi phí đo đạc, định giá: chị N, anh Đ liên đới trả 8.035.000 đồng.
    • Án phí dân sự sơ thẩm: chị N, anh Đ liên đới nộp 1.651.000 đồng.
  3. Án phí phúc thẩm: Bà Đặng Thị M được miễn (người cao tuổi).
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

Lưu ý: Bản án được biên tập lại từ nguồn công khai (Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao — congbobanan.toaan.gov.vn). Tên nhân vật đã được viết tắt/ẩn danh theo Nghị định 13/2023/NĐ-CP. Nội dung nhận định và quyết định giữ nguyên. Bản án chỉ mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn pháp lý chuyên sâu cho vụ việc cụ thể của bạn.